This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Tràng Tiền - xưởng đúc tiền xưa của Thăng Long thành

Phố Tràng Tiền thế kỷ 19 nằm trong “Bảo Tuyền Cục” trường đúc tiền giữa kinh thành Thăng Long, nay trở thành khu phố thương mại sầm uất của thủ đô Hà Nội.

< Ảnh phố Tràng Tiền: những năm đầu của thế kỷ 20 và ngày nay.

Phố Tràng Tiền thuộc quận Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội. Phố đi từ đường Trần Quang Khải, qua Quảng trường Nhà hát Lớn kéo dài tới ngã 4 Tràng Tiền – Hàng Khay – Đinh Tiên Hoàng.

Đoạn phía Đông phố nguyên là đất thuộc thôn Tây Long Đồn, Tả Túc, kinh thành Thăng Long xưa, nửa kia thuộc thôn Cựu Lâu, Hữu Túc, huyện Thọ Xương cũ.

< Ngôi nhà góc ngã 3 Tràng Tiền - Nguyễn Xí ngày nay và ảnh của thế kỷ trước.

Tên gọi "Tràng" là một âm khác của "trường", phố xưa nguyên là nơi mở trường đúc tiền vào năm 1808, có tên gọi chữ Hán là “Bảo Tuyền Cục”. Trường này nằm trên 1 khu đất hình chữ nhật, so với diện mạo phố ngày nay thì phần phía Bắc gần trùng với phố Tràng Tiền, phía Nam là phố Phạm Sư Mạnh, phía Tây là đoạn phố Ngô Quyền. Quanh trường này có hào bao bọc, để vào được bên trong phải đi qua 1 cây cầu ở cổng chính phía Bắc.

Trường này tới năm 1887 thì ngừng hoạt động. Sau này người Pháp chiếm Hà Nội, đã cho chia khu đất này ra cho tư bản xây cửa hàng, cửa hiệu.

< Ngã 4 Tràng Tiền - Ngô Quyền bây giờ và ngày xưa.

Đời Lê khu vực này là 1 bến đò chính đưa đón bên xứ Bắc vào kinh thành. Ngày ấy dòng chảy của sông Hồng sát ngay đường Trần Quang Khải, bãi sông được gọi là Tây Long. Xưa 1 cửa ô cũng được dựng nên, nay là nơi Nhà hát Lớn tọa lạc.

Vào thế kỷ thứ 18, chính tại bến Tây Long, quân Tây Sơn đã đổ bộ đánh vào trận địa quân Chúa Trịnh khi đó đang ở lầu Ngũ Long mà nay là Trung tâm Bưu điện Bờ Hồ ngày nay. Ngót 3 năm sau vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu năm 1789, bến này lại chứng kiến 2 vạn quân Thanh rút lui thảm bại.

< Tràng Tiền góc nhìn ra Nhà hát Lớn, nay và xưa.

Những ngày đầu chiến Hà Nội, Tràng Tiền là 1 trong những phố người Pháp chú ý xây dựng đầu tiên, nhiều hiệu buôn, khách sạn, nhà hàng lớn mọc lên, cũng là nơi người giàu sang thường lui tới, ngựa xe luôn tấp nập. Năm 1886 Pháp gọi đoạn từ quảng trường Nhà Hát Lớn tới hết phố Hàng Khay là phố Paul Bert, đoạn từ Trần Quang Khải vào tới Nhà Hát Lớn là “phố nước Pháp”.

Những năm đầu thế kỷ 20, tại số nhà 47 trên phố mà nay là Nhà Thông tin, trường Cao đẳng duy nhất của Đông Dương được mở ra với 2 ngành đào tạo là luật và sư phạm. Trên phố còn có rạp chiếu bóng Eden sau đổi tên là rạp Công nhân, có nhiều cửa hàng mỹ phẩm, và những cửa hiệu buôn lớn như là hiệu Chaffanzon...

< Cửa hàng bách hóa tổng hợp sau một thế kỷ.

Đầu phố, mạn hồ Gươm có Khách sạn Hà Nội. Nơi nhiều lính tây và người giàu có hay lui tới quán giải khát có tên Taverne Royal và hiệu bánh ngọt Bodega mà nay trở thành hiệu kem Tràng Tiền nổi tiếng bây giờ. Năm 1913 cũng tại phố đã xảy ra vụ ném bom khách sạn Hà Nội giết chết 2 sỹ quan Pháp gây xôn xao dư luận cả nước.

Phố Tràng Tiền ghi nhiều dấu ấn đối với lịch sử cách mạng hiện đại, bởi Quảng trường Nhà hát Lớn là nơi diễn ra nhiều sự kiện quan trọng liên quan tới cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám ở Hà Nội.


Sau ngày giải phóng Thủ đô phố mang tên gọi chính thức là phố Tràng Tiền. Ngoài ra còn có 1 ngõ song song với phố đi từ Phan Chu Trinh tới Nguyễn Khắc Cần ngày nay là ngõ Tràng Tiền, so với thời còn trường đúc tiền thì con ngõ trùng với 1 đoạn tường rào phía Bắc của Bảo Tuyền cục.

< Nhà hát Lớn thời nay và hồi thời chưa có khách sạn Hilton.

Từ đó tới nay Tràng Tiền trở thành con phố trung tâm với những cửa hàng, nhà may, cửa hiệu lớn, như Nhà in báo Nhân dân,Tổng Công ty Phát hành sách Trung ương, cửa hàng sách Quốc văn của Hà Nội. Khách sạn Hà Nội cũ, trở thành trung tâm sách ngoại văn và trung tâm phát hành báo chí. Rồi cửa hàng thời trang, cửa hàng kính...

< Tràng Tiền thu hút du khách thăm quan con phố biểu trưng vẻ đẹp Hà Nội những năm đầu thế kỷ 20 vẫn còn được lưu giữ.

Giữa phố ngày nay là Trung tâm văn hóa Pháp, nơi dạy tiếng Pháp và là nơi giao lưu văn hóa, nhiều triển lãm nghệ thuật đương đại thường xuyên được diễn ra tại đây.
Đi suốt chiều dài lịch sử xuất phát từ 1 trường đúc tiền từ thế kỷ 19 cho đến nay, qua nhiều thời kỳ xây dựng mở mang, Tràng Tiền đã trở thành 1 con phố thương mại sầm uất giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Du lịch, GO! - Theo Soha.new

Du lịch Cù lao Ông Hổ - An Giang

Cù lao Ông Hổ, nay thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP.Long Xuyên (An Giang), quê hương của Bác Tôn. Trên cù lao có khu lưu niệm và đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê.

Xem thêm »

Xôi ngũ sắc Tây Bắc

Xôi ngũ sắc từ lâu đã được biết đến là đặc sản ẩm thực của vùng Tây Bắc. Điều thú vị là 5 màu sắc tạo thành một tổng thể, tượng trưng cho âm dương ngũ hành, cho tình đoàn kết của các dân tộc anh em. Nhưng, mỗi màu sắc cũng có thể đứng độc lập, mang ý nghĩa riêng gắn với từng dân tộc.

Người Thái Mường Lò đã định cư ở vùng đất Tây Bắc từ lâu đời. Họ có bản sắc văn hoá độc đáo, đặc biệt là văn hoá ẩm thực. Món xôi ngũ sắc là đặc sản hội tụ những giá trị truyền thống và hiện đại, mang ý nghĩa triết lý âm dương và nhân sinh cao đẹp.

< Cơm xôi tím ngâm từ lá cây gừng mọc ở rừng.

Tại nhà anh Vi Quang Thuật ở bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, chúng tôi có dịp tìm hiểu về món xôi ngũ sắc. “Các già làng trong bản đã từng nói với anh rằng, xôi ngũ sắc thể hiện tình đoàn kết của các dân tộc anh em vùng Tây Bắc.

< Gạo nếp Tú Lệ được ngâm với nước từ cây cơm xôi đỏ.

5 màu sắc khác nhau nhưng cùng hội tụ lại thành một tổng thể gắn kết”, anh Thuật vừa chế biến xôi vừa nói với trò chuyện. Sau đó, anh tiếp tục câu chuyện với vẻ mặt hơi buồn: “Dù rất cố gắng nhưng mùa này lá cây gừng còn non và xanh nên anh không kịp tìm để làm màu xanh của xôi”. Vậy nên, chúng tôi chỉ mới vinh dự được thưởng thức món “xôi tứ màu” của bản.

< Gạo nếp Tú Lệ được ngâm bằng nước suối Mường Lò. Sau khi nhuộm màu, các cô gái Thái cho từng lớp vào chõ để đồ.

Ngày trước, món xôi ngũ sắc chỉ được làm vào những ngày hội lớn, ngày lễ tết hay cưới hỏi... nhưng, giờ nó trở thành món ẩm thực phổ biến trong đời sống, thể hiện sự hiếu khách của chủ nhà. Tùy vào mức độ thân thiết của khách với chủ nhà mà có khi chỉ đồ xôi nhị màu, tam màu… Nhìn vào đó có thể biết được quan hệ mật thiết của chủ nhà với khách. Đúng là mỗi dân tộc đều có sự tinh tế riêng của nó.

Để làm món xôi ngũ sắc thì việc đầu tiên là phải chọn gạo. Gạo để đồ xôi nhất định phải là gạo nếp Tú Lệ (còn gọi là nếp Tan Lả - theo tiếng của người Thái). Loại gạo nếp đặc sản vừa thơm, vừa dẻo, nổi tiếng nhất vùng thung lung lòng chảo Mường Lò. Nước đồ xôi phải là nước suối Mường Lò thì xôi mới thơm ngon.

Lúa ở Tú Lệ chín theo mùa, một năm có một vụ vào tháng 9, tháng 10, mùa nước đổ vào tháng 2, tháng 3 năm sau. Gạo nếp ở đây từ lâu đã nổi tiếng trong dân gian là một trong những loại nếp dẻo thơm bậc nhất. Hạt gạo nếp Tú Lệ trứ danh đều, dài, căng mẩy, hạt nào hạt nấy nhìn trong veo rất ngon mắt.

Cầm một nắm gạo nếp Tú Lệ trên tay, thấy nặng mà mát mượt như nhung. Thứ gạo ấy đồ lên, chẳng cần thêm nước dừa nước yến gì mà xôi vẫn cứ thơm, dẻo, ngọt từng hạt một. Dẻo mềm mà không bị ướt, bị dính. Ngọt mà càng nhai kỹ thì lại thấy bùi. Bùi mà không béo, không ngấy, ăn vào không thấy ngán, không thấy đầy đầy, ứ ứ như các loại xôi nếp thông thường khác.

Các loại lá rừng dùng để nhuộm màu được lựa chọn kỹ lưỡng, lá không được quá non hay quá già. Sau đó rửa sạch nấu với nước lấy từ suối nguồn ở xã Tú Lệ. Khi đã có nước màu, gạo nếp được cho vào ngâm khoảng 10 tiếng rồi vớt ra để ráo nước. Màu đỏ thì dùng lá cây có tên gọi là cơm xôi đỏ hay vào mùa gấc chín có thể lấy gấc làm màu xôi đỏ. Làm món xôi đen, có thể dùng gạo nếp có hạt gạo màu đen giống như nếp cẩm nhưng hạt tròn, to hơn, song người ta dùng lá cây gừng mọc ở rừng hoặc ven khe suối đốt lấy tro ngâm nước rồi gạn lấy nước trong để ngâm gạo. Làm món xôi vàng chỉ cần lấy củ nghệ già, giã nhỏ pha với nước ngâm gạo rồi đồ xôi là được.

Mỗi màu có một ý nghĩa riêng. Màu đỏ là màu tượng trưng cho khát vọng, màu tím tượng trưng cho trời đất trù phú, màu vàng tượng trưng cho sự no đủ, màu xanh tượng trưng cho núi rừng Tây Bắc, màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng và sự thủy chung. Ngoài ra, mỗi gam màu của xôi thể hiện sống động màu sắc trên chính trang phục của những thiếu nữ Thái.

Những ai có dịp thưởng thức món xôi này đều có chung cảm nhận và ấn tượng khó quên không chỉ bởi cái dẻo thơm từ hạt nếp Tú Lệ mà còn bị lôi cuốn bởi sự hòa quyện màu sắc của nó. Đây cũng là điều đặc biệt so với món xôi của các vùng, miền khác, một sự sáng tạo của phụ nữ Thái nói riêng và những dân tộc vùng Tây Bắc nói chung.

Truyền thuyết kể rằng xa xưa tổ tiên người Thái được các vị tiên giáng trần ban cho một loại thóc giống với lời dặn phải tìm nơi khí hậu, đất đai phù hợp gieo trồng để có loại lúa nếp thơm ngon đặc biệt. Vâng lời, người Thái đã du cư khắp các vùng Tây Bắc tìm đất gieo hạt mà không nơi nào như ý.

Chỉ đến khi gặp thung lũng phì nhiêu dưới chân đèo Khau Phạ, nhờ dòng nước mát trong từ con suối Mường Lống nuôi dưỡng, giống lúa nếp “trời ban” ấy mới khoe hết những phẩm chất của mình. Người ta còn kháo nhau gạo nếp Tú Lệ phải ngâm và đồ bằng nước suối trong vắt chảy ra từ những con suối đầu nguồn trên đỉnh Khau Phạ mới là thứ xôi nếp ngon nhất...

Du lịch, GO! - TTổng hợp từ VNP, TTO.

Tết ở Hang Kia thung trắng

Thung lũng Hang Kia nằm trên tuyến đường QL6 đi Mộc Châu, tuyến đường không còn xa lạ với những người yêu du lịch Việt Nam bởi sự hấp dẫn còn nguyên nét hoang sơ của cung đường xuyên qua vùng Tây bắc. Qua đèo Thung

Khe quanh co uốn lượn với những cơn gió tạt chao tay lái, đổ ào xuống ngã ba Mai Châu rồi cứ đà ấy lướt thêm chừng hơn 20km trên con đường thênh thang lưng núi.

Xem thêm »

Du lịch miền biên giới

Chúng tôi hướng về phía Tây biên giới, băng qua đồng nước mênh mang Mường Lay tìm đến đất Điện Biên để rồi từ đây hòa mình vào nơi khởi thủy của dòng sông Mã chảy sang từ nước bạn Lào. Chặng đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến năm xưa bỗng chốc hiện về trên suốt quãng đường 100km Điện Biên Đông - Sông Mã, con đường cho tới nay vẫn bụi mờ đất đỏ gập ghềnh lên xuống.

Từ thị trấn Điện Biên Đông vượt 7km đường núi dốc đá sẽ gặp con suối Lư cắt ngang đường khiến bạn phải băng qua cây cầu tre đan được đồng bào nơi đây bắc qua mới có thể tiếp tục cuộc hành trình. Từ đây để tới được Mường Luân mất khoảng 4 giờ mới đi hết 23km đầy gian khổ với nhiều vũng lầy.
Xem thêm »

Hoàng Sa từng được khảo sát du lịch từ năm 1925

“Từ bờ biển Ðông Dương có thể thực hiện chuyến du lịch tuyệt vời từ 2-3 ngày đến quần đảo Hoàng Sa... Nếu chúng ta rời tàu và lên một trong những hòn đảo của quần đảo ở phía bờ biển khuất gió bằng thuyền, người ta còn bị ngạc nhiên hơn nữa.

< Một trong những đảo tại quần đảo Hoàng Sa (VN).

Ta nhận thấy, xuyên qua lớp nước trong xanh như pha lê, từng chi tiết các san hô sống mà sự đa dạng về màu sắc và hình thái làm ta liên tưởng đến các khu vườn của thiên đường, nơi hội tụ những kỳ hoa dị thảo đẹp nhất trên trái đất [...]. Người ta dự kiến rằng trong một thời gian nhất định, một tour du lịch gọn nhẹ ra quần đảo Hoàng Sa rất đáng được xem xét”.

Những dòng trên đây không phải là bút ký du lịch của một du khách lãng mạn nào của thế kỷ 21. Nó được trích từ báo cáo khoa học hằng năm của một giám đốc Hải học viện (tên gọi cũ của Viện Hải dương học - tiền thân là Trạm nghề cá Ðông Dương) được thành lập từ ngày 22/9/1922.

Từ thời điểm đó, các nhà khoa học Pháp đã tiến hành nhiều chuyến khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa - nơi Chính phủ Pháp đã thiết lập quyền cai trị tiếp quản từ chính quyền Nam triều.

Nội dung nghiên cứu của các chuyến khảo sát này rất đa dạng: địa lý, địa chất, thủy văn động lực biển, sinh vật trên đảo, sinh vật dưới biển, tiềm năng khai thác và sử dụng tài nguyên, tiềm năng du lịch, kế hoạch xây dựng các khu dân cư trên đảo và các công trình phục vụ cuộc sống của dân cư...

Bảy chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa kéo dài từ năm 1925-1953 đã mang lại một kho tư liệu khoa học rất đa dạng và đặc biệt quý hiếm bởi tính khách quan, chân thực của nó. Thông qua các báo cáo, người ta có thể nhận thấy những bằng chứng chủ quyền hiển hiện một cách đương nhiên qua các thao tác khoa học, qua cách xác lập hồ sơ, qua mô tả những hoạt động của các nhà khoa học và cư dân trên quần đảo.

< Bia chủ quyền (VN) xưa.

“Ðoàn khảo sát thống nhất đệ trình lên toàn quyền Ðông Dương việc xây dựng ngọn hải đăng ở đảo Hoàng Sa thay vì ở đảo Tri Tôn như dự kiến trước đây... Vào ngày 26/10/1937, tàu Paul Bert và tàu Astrolabe được vận dụng để vận chuyển người và nguyên vật liệu phục vụ công trình xây dựng đèn biển... Ðể phục vụ công trình, 70 tấn vật liệu đã được chuyển ra Hoàng Sa”. Có không ít ghi chép như thế nằm trong các bộ hồ sơ mà người Pháp để lại, ảnh tư liệu về động thực vật, thổ nhưỡng và phong cảnh trên đảo cũng khá phong phú.

< Sách do Bùi Hồng Long chủ biên.

Viện Hải dương học đã tổ chức dịch từ tiếng Pháp và biên soạn lại để phổ biến các thông tin khoa học của ngành mình trong phạm vi hẹp. Thật đáng mừng nhưng cũng rất tiếc vì những thông tin quý giá như vậy chưa được phổ biến rộng bởi một NXB “đại chúng” hơn.

Hi vọng lần xuất bản tới, NXB Khoa Học Tự Nhiên và Công Nghệ sẽ có thêm những động thái quảng bá để cuốn sách quý này đến với công chúng cả nước và thế giới.

Trước đó, đề tài khoa học “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975)” đã được Sở KH-CN Đà Nẵng vừa tiến hành thành lập hội đồng nghiệm thu và thống nhất xếp loại xuất sắc cho đề tài khoa học “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1954 – 1975)”.

Đề tài này do Thạc sĩ Võ Công Trí, Trưởng Ban Tuyên giáo Thành uỷ Đà Nẵng, cùng các thành viên Ban chủ nhiệm đề tài gồm Bùi Xuân, Lưu Anh Rô, Võ Hà, Phạm Mạnh Hùng thực hiện trong gần 3 năm qua và vừa được Sở KH-CN Đà Nẵng thành lập Hội đồng nghiệm thu hôm 17/12.

< Hội đồng nghiệm thu do Sở KH-CN Đà Nẵng thành lập tiến hành nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học “Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam qua các tài liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1954-1975” hôm 17/12 vừa qua.

Có thể nói đây là lần đầu tiên một đề tài nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn trong cả nước đặt vấn đề nghiên cứu về Hoàng Sa từ các nguồn tư liệu lưu trữ của chính quyền Trung ương của VNCH. Ban chủ nhiệm đề tài đã tiếp cận, nghiên cứu hàng chục ngàn trang tư liệu liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và đã chọn đọc 209 hồ sơ với khoảng 1.028 trang tư liệu được lưu tại các Trung tâm lưu trữ Quốc gia. Từ đó đã copy, scan những tư liệu quan trọng, chính yếu về Hoàng Sa, gồm 521 trang tư liệu gốc, 30 ảnh tư liệu và 2 bản đồ.

"Tất cả các tư liệu được công bố trong đề tài này đều là những văn bản gốc, độc bản, có giá trị và tính thuyết phục cao, đáng tin cậy về mặt văn bản học. Do vậy, mỗi tư liệu được xem như một hiện vật lịch sử, làm cơ sở, chứng cứ cho việc chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, khẳng định tính liên tục về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vùng lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc".

Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu, tất cả các tư liệu trên đã phản ánh một cách chân thực, sinh động những hoạt động quản lý địa giới hành chính, ấn định lãnh hải, phương diện ngư nghiệp, nghiên cứu hải dương học, điều phái viên quản lý hành chính, canh phòng các đảo, tình hình tiếp viện quân xa, tiếp tế lương thực, điều kiện đời sống của binh lính, nhân viên khí tượng trên quần đảo Hoàng Sa… từ năm 1954 đến 1975.

Du lịch, GO! - Theo Tuổi trẻ, Biển Đông.Vntime và nhiều nguồn ảnh khác

Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu


Từ Lộ Vòng Cung qua sông Cần Thơ, ở chỗ bến phà Rạch Sung, thuộc huyện Phong Điền, du khách sẽ đến xã Nhơn Nghĩa. Từ đây có đường tẽ về rạch Mương Khai, nơi có Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu, là một di chỉ, thắng cảnh đẹp.

Xuyên qua những vườn dâu, sầu riêng, măng cụt xum xuê, trĩu quả dọc theo những con rạch nhỏ, dài, bàng bạc nước phù sa, qua nhiều cây cầu gỗ, xi măng thô sơ, trên con đường vắng vẻ còn nét hoang sơ, bạn sẽ đến một khu vườn rộng rãi, thoáng mát có rất nhiều cây cảnh, cây ăn quả và những ao, chuôm với rất nhiều bông sen, bông súng, bèo dại cùng tràm, bạch đàn, cát đằng, đan xen trong một tổng thể hài hòa với những ngôi nhà thủy tạ, nghỉ mát có kiến trúc nhẹ, đẹp mắt.

Di chỉ Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu được phát hiện cách đây vài mươi năm do sự tình cờ. Khi đào mương, lên liếp trồng cây, mò cua, bắt cá... trong những lung, bàu, mương rạch tự nhiên, con người đã nhặt được một số mảnh sành sứ, ấm chén, tượng đá, mảnh vàng thuộc niên đại văn hóa Óc Eo.

Vào những năm 1990, Viện Khảo cổ trung ương đã có cử đoàn khảo sát đến ấp Nhơn Thành, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền để tiến hành thăm dò, khai quật nhằm tìm hiểu thêm về nền văn minh cổ của cư dân Phù Nam từng tồn tại cách đây trên dưới 1.500 năm ở đồng bằng sông Cửu Long.

Qua những kết quả của khảo cổ học và những tư liệu, thư tịch cổ, người ta đã đủ cơ sở khẳng định rằng, trước người Chân Lạp (Khmer) đã từng có một sắc dân với nền văn minh, văn hóa Hindu gốc Nam Á xuất hiện, sinh sống, định cư, và mất đi trên bản đồ lưu vực sông Mekong một thời gian khá lâu.

Lung Cột Cầu - Bưng Đá Nổi theo lời kể lại của dân gian, xưa kia là một vùng đầm lầy hoang dại. Người ta đã gặp rất nhiều cọc gỗ lớn trong một số ao, bàu quanh vùng, ở độ sâu 2, 3 m dưới lớp phù sa thực vật. Người ta cũng phát hiện nhiều tảng đá xanh, hình khối chữ nhật đã được gia công, “nổi” lên trong cái ao của khu di tích hiện nay. Cùng với những di vật bằng gốm, đồng, vàng, cùng với những xương thú lớn đã hóa thạch, hiện có rất nhiều hiện vật được trưng bày tại Nhà bảo tàng Cần Thơ.

Những chuyên gia đã khẳng định dưới nền đất phù sa của Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu cách đây trên 1.500 năm đã có cư dân Phù Nam cổ sinh sống thành một cộng đồng khá phồn thịnh. Nhưng, nguyên nhân nào mà nền văn minh Óc Eo  rực rỡ, có một địa bàn rất rộng khắp Đông và Tây Nam bộ bị suy tàn, mất dấu vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng. Có khá nhiều giả thuyết đặt ra nhưng chưa  thuyết phục! Tất cả vẫn còn là những bí ẩn thú vị!

Nhà văn nổi tiếng, nhà "Nam bộ học" Sơn Nam từng có cảm hứng đối với vùng đất trẻ ĐBSCL khi ông viết cuốn tiểu thuyết Vạch một chân trời vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước. Trong đó, tác giả có nghi vấn và đặt giả thuyết về một vương quốc hùng mạnh có nguồn gốc Nam Á đã bị một cơn đại hồng thủy nhận chìm dưới lớp phù sa, và trên đó là những cánh rừng bạt ngàn của Nam bộ thời khẩn hoang, có thể có những kho tàng khổng lồ, bí ẩn còn nằm trong lòng đất !(?).

Bưng Đá Nổi - Lung Cột Cầu hiện nay là một điểm tham quan du lịch văn hóa và sinh thái. Vào các dịp lễ hội lớn nơi đây thường tổ chức các loại hình sinh hoạt nghệ thuật khá hoành tráng. Do cảnh quan thơ mộng, trữ tình, nơi đây thường có các đoàn nghệ thuật đến quay phim, dựng cảnh.

Khu du lịch này hiện nay chỉ đến được bằng đường xe hai bánh. Đã có dự án sắp tới cho ôtô vào được. Trong tương lai, đây sẽ là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích thiên nhiên và yêu mến văn hóa, lịch sử.

Ở giữa không gian còn hoang sơ của Bưng Đá  Nổi - Lung Cột Cầu, ta sẽ thấy tâm hồn mình lắng lại trong sắc nắng vàng tươi của buổi sớm bình minh nơi thôn dã. Và khi hoàng hôn xuống, bạn sẽ nghe  khúc hòa âm của những nhạc sĩ đồng quê, ấy là những chú ếch, nhái, ễnh ương, vạc sành và những côn trùng khác. Khúc nhạc ấy rất lạ lùng và thú vị. Khi trỗi lên đồng điệu, khi thì như khúc solo dạo đầu, khi hòa  vào nhau ồn ào, ầm ĩ... và cũng có khi êm đềm như một bài hát trữ tình du dương.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ báo Hậu Giang, Áo Trắng và nhiều nguồn ảnh khác.

Chinh phục những đỉnh cao

Khi Phanxipăng đã trở thành một điểm đến phổ thông, thì xu hướng đi tìm kiếm những đỉnh cao mới nhen nhóm trong lòng dân đi. Nhiều cung đường mới được phát hiện, hình thành và chinh phục, đem lại nhiều ấn tượng và sự thỏa mãn cho những người leo núi, đi rừng không chuyên.

“Chúng tôi đã lên đỉnh Pu Ta Leng”

Là người say mê “vùng cao”, Body Party (tên - nickname dân du lịch sử dụng trên các diễn đàn mạng) từng chinh phục Phanxipăng (Lào Cai) nhiều lần theo những cung đường mới và đã đặt chân lên đỉnh Phu Song Sung (Yên Bái) cao xấp xỉ 3.000m. Mới đây nhất, Body cùng với Soi7x và Bazo là những người đầu tiên có mặt trên đỉnh Pu Ta Leng (Lai Châu) cao gần 3.100m, đỉnh núi được coi là nóc nhà thứ hai của Việt Nam.

Ngồi với Body, những câu chuyện kể về đêm trăng sáng ngồi trên mây trắng Tà Xùa (Yên Bái) nhóm lửa và uống rượu cùng đồng đội với những kỷ niệm phiêu diêu, huyền hoặc đã in vào ký ức... như không bao giờ dứt.

Có thể nói khi phong trào đi du lịch bằng xe máy đang trở nên quá phổ biến với các bạn trẻ, thì việc tìm cho mình một đam mê qua những hành trình chinh phục đỉnh cao đã tạo một góc nhìn mới cho dân đi. Các chuyến đi đều mang tính tự túc, tự mở cung và tự tổ chức, người đi sau học kinh nghiệm của người đi trước.

Hiện ở Hà Nội, thỉnh thoảng lại có một nhóm tổ chức leo núi Hàm Lợn (Sóc Sơn, Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Tây Yên Tử (Bắc Giang) vào dịp cuối tuần. Ở miền Trung, một số điểm đến hay được các bạn trẻ lựa chọn như núi Hòn Bà (Nha Trang), Sơn Trà (Đà Nẵng), Bạch Mã (Thừa Thiên - Huế).

Tuy nhiên, ở miền Nam, do điều kiện địa hình không phong phú như miền núi phía Bắc nên không có nhiều “đỉnh cao” để lựa chọn. Tây nguyên có dãy Trường Sơn hùng vĩ nhưng cũng chưa được dân đi khai phá.

Khai phá những đỉnh cao

Do đặc điểm địa hình cũng như phong trào còn non trẻ, các cung leo núi, băng rừng ở miền Trung và miền Nam chưa thật sự hiểm hóc như vùng núi phía Bắc. Công tác tổ chức thực hiện dễ dàng hơn do cung ngắn, độ khó trung bình, thời gian ít. Ngược lại, một vài nhóm có kinh nghiệm ở Hà Nội thường mày mò tổ chức một nhóm đi nhỏ với cung đường hiểm trở, mất nhiều công sức và đôi khi không thành công.

Trước kia, khi phong trào đi tìm “chấm” (*) còn mạnh, việc chinh phục những “chấm” khó ở Hàm Yên (Tuyên Quang), Mường Sai (Sông Mã, Sơn La) hay Khau Cọ (Văn Bàn, Lào Cai) cũng hay cuốn dân đi vào những hành trình leo núi băng rừng không đoán trước được kết quả. Trong năm 2011-2012, đỉnh Pù Luông (Thanh Hóa), đỉnh Phu Song Sung (Yên Bái) và gần đây là đỉnh Pu Ta Leng đã trở thành những đích đến hấp dẫn nhất của dân leo núi đi rừng không chuyên. Đã có nhiều chuyến đi tiền trạm, khám phá và thất bại. Nhóm sau rút kinh nghiệm của nhóm trước, cuối cùng cũng đến lúc tìm ra con đường đến đích cho những người trẻ đam mê khám phá và chinh phục.

Tổ chức leo núi thường phức tạp, phải tìm kiếm bản đồ địa hình tỉ lệ lớn, hiểu biết cách thức đọc bản đồ, phân tích được địa hình và quyết định lộ trình sao cho hợp lý về mặt sức khỏe và thời gian, cũng như phải tính toán được sự hỗ trợ từ cư dân bản địa với chuyến đi. Bản thân sự chuẩn bị cho chuyến đi một cách kỹ lưỡng, những trao đổi mang tính kiến thức được chia sẻ trên nhiều diễn đàn đã mang lại nhiều câu chuyện thú vị, giúp nhiều nhóm đi thành công.

Những đỉnh cao châu Á

Nếu những lộ trình chinh phục đỉnh cao ở trong nước mang tính chủ động và độc lập cao, hầu như không do một công ty lữ hành hay hiệp hội nào tổ chức, dân đi muốn leo núi ở ngoài biên giới lại phải tự tìm kiếm thông tin trên mạng và qua kinh nghiệm của những người đi trước để có thể đặt dịch vụ cho một chuyến đi với chi phí hợp lý. Những ngọn núi ở châu Á phù hợp về chi phí và thời gian với dân “bụi” hay được lựa chọn là đỉnh Kinabalu cao nhất Đông Nam Á (Malaysia), núi Phú Sĩ (Nhật Bản), các cung đường ở vùng nóc nhà thế giới Tây Tạng, Nepal, các đỉnh núi lửa Pinatubo, Taal ở Philippines, núi lửa Semeru (đảo Java, Indonesia)...

Đặc điểm của các chuyến đi này là đều có dịch vụ du lịch do người bản địa cung cấp, du khách chỉ cần tìm hiểu kỹ cung đường và giá cả để đảm bảo phù hợp với kế hoạch cá nhân. Do yếu tố kinh tế chi phối nên không có nhiều dân du lịch bụi có cơ hội thực hiện được các chuyến chinh phục đỉnh cao ngoài biên giới kể trên. Tuy nhiên, ngoài đặc điểm tuyệt vời của địa hình với thiên nhiên kỳ vỹ và ấn tượng, việc chinh phục các điểm đến này cũng là những minh chứng sâu sắc về ý chí vượt qua thử thách của con người.

Để được “đi”



Leo núi, băng rừng, chinh phục những đỉnh cao là một hình thức du lịch được yêu thích trên thế giới. Một sở thích lành mạnh, thỏa mãn được đam mê khám phá những khu vực thiên nhiên hoang dã, hấp dẫn và độc đáo. Sau những chuyến đi mà ý chí đóng vai trò cực kỳ quan trọng này, nhiều người đã tìm lại được cho mình nguồn năng lượng dồi dào, tươi mới trong cuộc sống cũng như nhiệt huyết cho nhiều chuyến đi tiếp sau này.

Sau khi đỉnh cao Pu Ta Leng được chinh phục, sẽ có những đỉnh cao khác trong bản đồ Việt Nam được hướng tới như đỉnh Nhĩ Cù San (Bát Xát, Lào Cai), đỉnh Ngọc Linh (dãy Trường Sơn) với đam mê và nhiệt huyết của những người leo núi, băng rừng không chuyên. Đó chính là những hành trình mới, hấp dẫn và nhiều mơ ước, đang thúc gọi những người trẻ lên đường, đơn giản chỉ là để được “đi”.

* Cách gọi tên điểm giao cắt giữa một kinh độ chẵn với một vĩ độ chẵn.

Du lịch, GO! - Theo Băng Giang (TTO) và nhiều nguồn khác.

- Bản đồ của google có một chút nhầm lẫn trong chú thích về núi Pu Ta Leng. Ngọn núi này thực chất thuộc địa phận huyện Tam Đường - Lai Châu (không phải Tam Đường Lào Cai) - Huyện này có địa thế bao bọc gần như xung quanh thị xã Lai Châu (vì thị xã thực chất được tách ra từ huyện Tam Đường cũ khi chia tách tỉnh năm 2003). Do rất gần thị xã Lai Châu và thị trấn Tam Đường nên khi trời nắng, từ khu vực quảng trường thị xã Lai Châu có thể quan sát thấy khu vực này bằng mắt thường.

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Nhộng ong xào vùng trung du

Chốn phồn hoa đô hội có nhiều món ngon, lạ; có đủ các món sơn hào hải vị nhưng không dễ có được món nhộng ong xào độc đáo...
Mùa hè, ở vùng rừng trung du phía tây Lệ Thuỷ (Quảng Bình) quê tôi có nhiều đàn ong về làm tổ. Ong làm tổ trên cây, dưới đất, trong bụi rậm, chỉ có người tinh mắt hay vô tình nhìn thấy hoặc những đứa trẻ chăn bò phát hiện.

Tổ ong nhìn bề ngoài ai cũng phải rợn tóc gáy, vì nó có hình thù và hoa văn giống hệt… não người. Muốn đốt tổ ong phải chờ thời cơ vào ban đêm, dùng rơm hoặc chổi cùn đốt lên và đem châm vào cửa ra vào của bầy ong. Đợi khi bầy ong bị hun khói… say xỉn, chết hoặc bay đi hết thì mới gỡ tổ ong mang về nhà.
Xem thêm »

Đầu năm, du lịch Sơn Tây

Nói đến Sơn Tây là nói đến Đền Và, Thành cổ, chùa Mía… - những địa danh đã đi vào lịch sử và trở thành danh thắng quốc gia.
Là vùng đất cổ của người Việt, Sơn Tây quê hương của Phùng Hưng và Ngô Quyền, có nhiều di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng. Trên bước đường du Xuân đầu năm, mời bạn ghé qua thị xã xứ Đoài - dừng chân thưởng ngoạn non nước và tình người nơi đây.

Thành cổ Sơn Tây nằm giữa trung tâm thị xã, trên cái nền xanh cây cối ngút ngàn không chỉ tôn thêm giá trị, mà tạo sức hấp dẫn du khách. Thành cổ Sơn Tây được xây từ năm Minh Mạng thứ 3 (năm 1822) từng được người Pháp ca ngợi là một công trình kiệt tác của nền kiến trúc An Nam.

Thành có 4 cửa quay ra các hướng Bắc, Nam, Tây, Đông và lần lượt có tên là: cửa Hậu, cửa Tiền, cửa Hữu, cửa Tả. Trước đây bốn cửa đều có cầu gạch bắc qua hào nước, nhưng hiện nay chỉ có hai cửa chính là cửa Tiền và cửa Hậu, có cầu bắc qua hào nước, dẫn vào cổng thành.

Hiện 4 cổng thành bằng đá ong còn giữ được nguyên vẻ nguyên sơ cổ kính, trên các cổng có vọng lâu và ụ súng. Theo sử sách ghi lại, ngày trước, thành Sơn Tây có 5 khu: khu giữa thành là khu nghi lễ, hai ao sen hai bên, có vọng lâu cao 18 thước.

Trong thành có điện Kính Thiên rộng 5 gian lợp ngói lưu ly, bên trong có 2 cột tròn làm bằng gỗ lim, đường kính 0,5 mét sơn màu cánh gián. Hai gian bên có cửa sổ tròn trang trí hình chữ Thọ.

Trong thành có các hạng mục kiến trúc: cột cờ (tức vọng lâu) cao 18m, cửa hành cung, hành cung, hai giếng vuông, phía trước khu nghi lễ (Hành Cung, sân, điện), gần với cửa Tiền. Điện ở đây từng là tòa nhà 5 gian hai trái, tám mái chồng diêm, nằm khoảng chính giữa thành, là nơi làm việc của các quan.

Ngày nay, trải qua nhiều biến cố, thành cổ đã bị tàn phá nhiều nhưng những đường nét, dấu tích xưa cũng đủ khiến du khách thỏa niềm hoài cổ.

Trong hành trình du Xuân thị xã xứ Đoài, sân gôn Đồng Mô thuộc địa bàn xã Sơn Đông cũng là một điểm đến hấp dẫn. Sân gôn Đảo Vua nằm trên một hòn đảo thơ mộng, xứ sở của những huyền thoại gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh.

Đến với sân gôn Đảo Vua, du khách sẽ được tận hưởng cảm giác thoải mái trong giờ phút nghỉ ngơi thư giãn và đắm mình trong một khung cảnh thiên nhiên khoáng đạt, ở đây các tay gôn có cơ hội thửsức và vượt qua chính mình tại những hố gôn mang đầy tính thử thách, được đánh giá là một trong những sân gôn đẹp nhất Đông Nam Á.

Ngược theo đường Hồ Chí Minh khoảng 7 km, du khách đến vơí làng cổ Đường Lâm. Đây được xem là nguyên mẫu làng cổ của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng được cả nước và bạn bè quốc tế biết đến. Tại đây, có những nếp nhà được xây dựng cách đây hàng vài thế kỷ.

Đường Lâm có tới 956 ngôi nhà truyền thống trong đó các làng Đông Sàng, Mông Phụ và Cam Thịnh lần lượt có 441, 350 và 165 nhà. Có nhiều ngôi nhà được xây dựng từ năm 1649, 1703, 1850.... Căn nhà lâu đời nhất có tuổi thọ hơn 400 năm vẫn lưu giữ được bài văn cúng tế bằng chữ nho được viết bằng mực tàu trên một tấm ván.

Các chi tiết làm nên" linh hồn" của nhà cổ gồm có tường đá ong, cổng đá ong, lối đi lát gạch nghiêng, bậu cửa cao và gian thờ tổ tiên.

Các ngôi nhà trong làng đều có kiểu nội tự - ngoại khách, sân nhà thấp hơn mặt đường, vào những ngày mưa, nước từ ngoài dồn vào trong sân (tụ thủy sinh tài) rồi mới chảy thoát ra đường cống.

Bạn cũng sẽ được gặp gỡ những con người với nếp nghĩ, nếp sống chân thành cởi mở, đặc biệt mến khách. Bạn sẽ có cơ hội được thưởng thức những đặc sản làng cổ như gà Mía, kẹo lạc, chè kho, kẹo dồi… mà Tết đến nhà nào cũng để dành đãi khách phương xa. Người dân Đường Lâm rất ý thức về giá trị văn hóa của làng mình. Họ biết rõ vẻ đẹp trầm mặc cổ kính của những ngôi nhà cổ đang thu hút khách thập phương tìm về để nôn nao cùng... quá khứ.

Xứ Đoài còn có chùa Mía, có hiệu là “Sùng nghiêm tự” cách thủ đô Hà Nội chừng 45km về phía Tây. Chùa được xây dựng trên một quả đồi nằm giữa làng Đông Sàng, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

Chùa Mía được xây dựng từ mãi xa xưa. Đến thế kỷ 17, Chùa bị hoang phế điêu tàn. Năm 1632 Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Dong đã đứng ra khuyến mộ thiện nam tín nữ các làng Đông Sàng, Mông Phụ, Cam Thịnh, Cam Toàn… thuộc tổng Cam Giá (tức Tổng Mía) cùng nhau tôn tạo lại.

Cung Phi Ngọc Dung còn gọi là Ngô Thị Ngọc Diệu, là phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657) vốn là người làng Nam Nguyễn (Nam An) trong Tổng Mía.

Nhân dân trong vùng mến mộ uy đức của Bà, đã tạc tượng đưa vào phối thờ ở Chùa và còn có đền riêng. Vì tôn kính nên gọi là “Bà Chúa Mía.” Về sau Chùa được tu bổ nhiều lần, song đến nay quy mô tôn tạo thời Bà chúa Mía dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Các tòa Tam Quan, Chính Điện, Thượng Điện, Nhà Tổ, hành lang san sát nối kề, trong ngoài bao bọc, ngang dọc đan xen, tọa dáng thành hình chữ Mục.

Tượng Phật ở Chùa Mía không chỉ đặc sắc về hình dáng, mà còn phong phú về số lượng. Trong Chùa hiện thờ 287 tượng lớn nhỏ, gồm 6 tượng đồng, 107 tượng mộc và 174 tượng thổ. Trăm pho trăm vẻ, nhưng pho nào cũng tạo ra một kiểu dáng sống động, màu sắc chế phối hài hòa. Từ cử chỉ của ngón tay đến cài nhìn của khóe mắt, đều cho khách viếng thăm thấy được nét độc đáo phi phàm mà lại đầy vẻ từ bi hỷ xả: “Người xưa đã tạc bao nhiêu tượng, đầy vẻ từ bi dáng cứu đời.”

Sơn Tây có Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt Nam tại Đồng Mô, đây là nơi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch mang tính quốc gia, nơi tập trung tái hiện, gìn giữ, phát huy và khai thác các di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt.

Làng văn hóa được xây dựng với tổng diện tích 1544 ha, gồm các khu chức năng như: Khu làng dân tộc, Trung tâm văn hóa giải trí và dịch vụ tổng hợp, khu cây xanh mặt nước hồ Đồng Mô...Nơi đây sẽ là địa điểm lưu giữ, bảo tồn và giới thiệu những di sản văn hóa truyền thống đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam.

Còn nữa, đối với người Sơn Tây, mùa Xuân đến gắn liền với hội Đền Và. Đền Và thuộc thôn Vân Gia, Xã Trung Hưng. Hàng năm lễ hội đền Và mở vào ngày rằm tháng giêng. Cứ 3 năm thì tổ chức lễ hội lớn một lần vào các năm Tý - Mão - Ngọ - Dậu. Năm lễ hội lớn ở đền Và có lệ tục rước nước do dân làng Di Bình thuộc xã Vĩnh Thịnh, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đảm nhiệm. Cũng vào năm tổ chức lễ hội lớn, các làng có liên quan tín ngưỡng ở đền cùng nhau tổ chức một cuộc rước lớn. Tất cả có 8 làng tham gia, gồm: Vân Gia, Thanh Trì, Nghĩa Phủ, Mai Trai, Đạm Trai thuộc xã Trung Hưng; làng Phù Sa, Phú Nhi (Bần Nhi) thuộc xã Viên Sơn và làng Di Bình (tỉnh Vĩnh Phúc).

Lễ hội diễn ra trong một không gian rộng, được tổ chức chặt chẽ. Lễ hội bắt đầu mở từ ngày 13 tháng giêng. Dân thôn Vân Gia lên đền dọn dẹp, trang trí cờ hội. Buổi chiều dân các thôn rước cỗ kiệu của làng mình về đặt ở sân trước nhà tiền tế tại đền Và.

Các cỗ kiệu xuống thuyền qua sông. Cư dân vạn chài ở trên sông tấp nập kéo tới, ghép thuyền lại thành một cầu phao lớn cùng đưa đoàn rước sang sông và họ nhập vào đoàn rước trở thành những ngư­ời đi hội. Quan niệm của dân vào ngày này vạn chài nào trên sông làm nhiều điều phúc thì Thánh Tản sẽ cho nhiều lộc lớn trong năm.

Sang ngày 15 tháng giêng, ngày chính hội là những cuộc vui chơi, tiếp đón khách thập phương đến đền Và dâng h­ương, hoa trái và viếng Đức Thánh Tản. Ngày 15 ở sân tr­ước nhà tiền tế có đấu vật. Các đô vật xứ Đoài đến vật chầu bóng Thánh, sau đó diễn trò vui vật giật giải, một thú vui đua sức, đua tài vốn rất được dân xứ Đoài hâm mộ.

Xứ Đoài Sơn Tây còn có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử-văn hóa nổi tiếng khác như đền thờ Phùng Hưng, Lăng Ngô Quyền, đền thờ thám hoa Giang Văn Minh, làng Việt cổ đá ong, giếng cổ Đường Lâm, thác Lụa, suối Huy Mân... và nhiều thắng cảnh đẹp khác, một trung tâm của vùng văn hoá với núi Tản, sông Đà xứng đáng là vùng đất “địa linh, nhân kiệt” mà bạn sẽ đến trong mùa xuân.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

 
-------------------------------------- Share template blogspot, share code